28-12-2021 | Admin

Ngày xưa khi còn ngồi ở ghế nhà trường, mỗi khi học tới bài thơ của Thiền Sư Vạn Hạnh, có câu: “Nhậm vận thịnh suy vố bố úy, thịnh suy như lộ thảo đầu phô (Sá chi suy thịnh sự đời, thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành), tôi chợt nghĩ điều này sao khó quá, chắc chỉ dành riêng Thiền sư và Tổ sư chứng đạo mà thôi, mình chỉ học và học để đó biết khi nào mới làm được.



 

Thời gian dần trôi qua, tôi lớn dần trong “sữa pháp” và trưởng thành trong giới thân, huệ mạng mà chư vị Thầy tiền bối đã truyền trao. Những con chữ và những bài kinh được học năm nào là những hạt giống được gieo vào tạng thức, là giai đoạn “học pháp”. Bước tiếp theo vô cùng quan trọng đó là “hành pháp”, đem những điều đã học từ kinh điển, từ lời dạy của Đức Phật, áp dụng vào cuộc sống đời thường, và cuộc sống tu tập để dần chuyển hóa những nghiệp lực đã gieo trồng trong quá khứ, chuyển hóa những thói hư tật xấu đã huân tập nhiều đời, ngăn chặn gieo trồng những ác nghiệp trong đời này để làm sao có được an lạc trong hiện tại dù cuộc sống có muôn vàn đổi thay, thăng trầm vinh nhục.

Trong Phật giáo có thuật ngữ “ngộ đạo”. Ngộ đạo là thấy được chân lý, nhận thức được bản chất của cuộc đời là vô thường, là giả tạm, là duyên sinh, vô ngã, là khổ đau.v.v….thông qua sự học và hành pháp. Quá trình thực tập này có khi dài có khi ngắn, có lúc sâu, có lúc cạn, có lúc thường xuyên và đều đặn, có khi bị gián đoạn vì ngoại cảnh hay nội tâm. Nếu chúng ta thực hành một cách thường xuyên và liên tục khi đối diện với những vấn đề xảy ra hàng ngày, hoặc những phiền não  thường quấy nhiễu trong tâm thức với sự quán chiếu thì chúng ta sẽ nhanh chóng gặt hái được kết quả.

 

 

Bản năng của con người xưa nay sống theo thói quen hướng ngoại, phóng tâm ra bên ngoài để tìm tòi, nhận xét, đánh giá, kết tội những người xung quanh. Cùng với những sức hút hấp dẫn bên ngoài với đa dạng tiện nghi vật chất và phương tiện sống, khiến cho con người mất dần khả năng làm chủ bản thân. Lâu ngày ta bỏ quên, không nhớ quay về chăm sóc vườn tâm của chính mình, như một bãi trống hoang vu, mọc đầy cỏ dại. Quên chăm sóc vườn tâm, quên dọn dẹp những rác rưởi là mảnh đất màu mỡ cho những phiền não, khổ đau phát triển. Cỏ dại phiền não dần hút đi những năng lượng tích cực và tinh hoa của tâm hồn, lưu lại đây một trái tim đầy tật nguyền in hằn dấu vết của những nỗi khổ niềm đau.

Thực hành phương pháp quay vào bên trong để quán sát, chúng ta thấy rất rõ trong con người của mình luôn tồn tại hai khía cạnh, cũng như cuộc đời luôn tồn tại hai mặt: âm, dương; đẹp, xấu; hay dỡ; hạnh phúc, khổ đau. Có đôi khi nhìn thấy tâm mình hiền và lành như một thiên thần hay một bậc Thánh, nhưng cũng đôi khi hiện nguyên hình là một con quái thú đầy hung dữ và tàn bạo, sẵn sàng tấn công đối phương bất cứ lúc nào nếu người đó đem lại sự bất lợi và khổ đau cho ta. Như Trịnh Công Sơn đã viết: “Con mắt còn lại nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương, nhìn e thú dữ” (Con mắt còn lại – Trịnh Công Sơn). Trong em có cả yêu thương, có cả thú dữ. Nếu thương yêu bằng tình thương đích thực thì thương cả hai điều tồn tại trong em. Không phải chỉ có em mà tôi cũng thế. Có đôi khi tôi rất dễ thương, hiền lành, nhưng đôi khi tôi là một thú dữ. Muốn thương được người khác thì hãy bắt đầu thương chính bản thân mình, thương cái dễ thương và cả những điều dễ ghét đang tồn tại trong nội tâm. Quay về quán sát, chăm sóc, vỗ về để những hạt giống xấu tệ đó được tưới tẫm từng ngày bằng năng lượng yêu thương thì sẽ nhanh chóng chuyển hóa thành những hoa thơm và trái ngọt. Tu tập chính là nhìn nhận và chuyển hóa.

 

 

Trong pháp tu “Lục Độ Ba La Mật” nói riêng hay pháp tu của một vị Bồ Tát theo tinh thần Phật giáo Đại thừa nói chung thì “nhẫn nhục” là yếu tố rất quan trọng, quyết định sự thành tựu quả vị giác ngộ và giải thoát của một hành giả. Nhẫn nhục thông thường được hiểu là sự nhẫn nhịn, chịu đựng khi có ai đó mắng nhiếc, chửi rủa hay gây phiền phức, đau khổ cho ta. Nghĩa là nhẫn chịu những điều lớn lao, và khó khăn mà người khác không làm được, nên nhẫn nhục luôn được ca ngợi là cần phải có sức mạnh, “nhẫn nhục là sức mạnh”. Nhưng nếu phân tích một cách kỹ càng và chi tiết thì nhẫn nhục chính là biết chấp nhận, đón nhận những điều bất như ý dù đó là những điều nhỏ nhất xảy ra hàng ngày. Nếu từ những việc nhỏ bất như ý mà chúng ta không đón nhận một cách vui vẻ, hoặc chí ít là bằng tâm thế tự tại, an nhiên, thì làm sao có đủ sức mạnh để nhẫn chịu những điều to lớn. Nhẫn nhục không phải gồng mình lên để đè nén, để né tránh hoặc để cho qua, mà nhẫn nhục thể hiện một sức mạnh tuyệt vời được hình thành từ sự thực tập chuyên cần, quán chiếu nội tâm và ngoại cảnh một cách liên tục. Một cảm giác hay cảm xúc xảy ra trong tâm thức, chúng ta ghi nhận và quán sát. Một người hay một việc bên ngoài đem đến cho ta những điều dù như ý hay bất như ý, chúng ta cũng ghi nhận và quán chiếu. Dù bên trong hay bên ngoài thì cũng đều là vô thường, chóng qua, không có gì là tồn tại bất diệt. Nhờ sự quán chiếu liên tục như thế ta làm chủ được nội tâm của mình. Khi đã làm chủ được tâm thì ngoại cảnh bên ngoài không đủ sức làm tâm ta lay động, phiền não, khổ đau. Sức mạnh của nội tâm từ đó hình thành và ngày càng lớn mạnh.

Trong muôn vàn biến động của thế giới bên ngoài, và thế giới nội tâm, nếu chúng ta không nỗ lực tu tập, chuyển hóa tự thân, phát triển sức mạnh nội tâm, phát huy khả năng làm chủ chính mình thì chắc chắn chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, trắc trở và khổ đau. Nếu chúng ta đau khổ thì làm sao có được năng lượng bình an và hạnh phúc để ban tặng cho người? Nếu yêu thương được xây dựng trên nền tảng của khổ đau thì tình thương ấy là một chuỗi ngày dài sống trong tăm tối. Tự phát triển sức mạnh nội tâm là tự xây dựng hòn đảo vững chãi trong tâm để tám ngọn gió đời: được, mất; hơn, thua; vinh, nhục; khổ đau và hạnh phúc không có cơ hội thổi bay chúng ta xuống bờ vực thẳm, và cũng là xây dựng hòn đảo vững mạnh làm chỗ dựa tinh thần cho mọi người xung quanh.

Nguyên Ngộ, ngày 27 tháng 12 năm 2021

                                          TT. Thích Đạo Nguyên