13-07-2022 | Admin

Buddha, theo Phạn âm, hay Phật là người hiểu rõ bản chất thật của thực tại. Bản chất thật của thực tại là nhận thức sự vật với tri giác và tâm trí; bản chất của thực tại ngay thẳng hay méo mó do con người phân biệt. Bản chất của thực tại là trạng thái của tất cả sự vật hay hiện tượng mà tri giác và tâm trí nhận biết được trong cuộc sống. Nó không phải là sự suy tưởng cũng không phải tưởng tượng mà nó được mà tri giác và tâm trí nhận biết bằng cái gọi là “lý trí”. Nghịch lý thay, “lý trí” và “đức tin” luôn mâu thuẩn nhau; con người dùng lý trí để nhận biết được thực tại nhưng để nhận biết bản chất của thực tại lại phải dùng tư duy. Tư duy “tin” hay “không tin” vào trạng thái của sự vật hay hiện tượng lại do lý trí của con người lại là “đức tin”.



Ảnh minh họa

Như vậy, có thể nói rằng cái gọi là “thực tại” phụ thuộc vào sự quan sát và điều kiện quan sát. Nếu bản chất của thực tại là những gì con người quan sát được thì thế giới được nhìn thấy khi “tỉnh táo” khác với thế giới khi “không tỉnh táo” mặc dù bản chất của chúng không thay đổi. Nói cách khác, có đức tin nhưng cũng không có đức tin tùy vào cách tin mà Đức Phật gọi là trí tuệ. Trí tuệ không phải do Trời, Thần, Quỷ, Vật nào ban cho mà là do sự phát triển và chuyển hóa tâm thức theo con đường Đức Phật chỉ dạy: "Các con hãy là những hải đảo, những ngọn đuốc cho chính mình. Hãy nương tựa vào chính mình, không nương tựa vào nơi nào khác" 1. Quan trọng là tin tưởng hay nương tựa nhưng phải dùng lý trí để chiêm nghiệm và chứng thực những gì đã học.

Chính vì “nương tựa vào chính mình” mà con người nảy sinh ra tâm phân biệt cũng chính tâm phân biệt mà thiếu phần lý trí đã dẫn con người tới tâm tham, tâm sân và tâm si. Phật đạo là con đường trí tuệ để phá con đường vô minh, cội nguồn gốc của đau khổ và lầm lạc. Đức Phật không phải là một vị thần tối cao, Ngài mà chỉ là một người bình thường như bao con người khác và được tôn thờ sau khi diệt độ. Do sự tôn thờ và tôn sùng đó, tín đồ dần dần bị tha hóa và xa rời phương pháp tu tập nguyên gốc và tinh thần từ bi, hỷ xả của hệ thống giáo lý Phật giáo. Hơn nữa, sau Đức Phật gần 2.600 năm, những triết gia thời cận đại như Pháp và Đức cũng đã đề cập đến tư tưởng về tha hoá của con người sau Đức Phật gần 2.600 năm. Do nhu cầu xã hội, do thúc bách cá nhân con người đã bị tha hóa về về tư tưởng và phẩm chất đạo đức. Điều này đã tác động tiêu cực rất lớn đến sự phát triển và tiến bộ về mặt tâm thức của còn người, của nhân quần xã hội. Thuật ngữ tha hóa là một khái niệm được sử dụng rộng rãi và khi dùng để đánh giá con người, nó thường được hiểu là đánh mất bẩn chất thực tại về phẩm chất đạo đức, nhân cách của con người. Do xa rời tinh thần từ bi, hỷ xả và chạy theo thực tại để cho “bằng chị bằng em” và tham – sân – si theo đó trỗi dậy kéo theo mê tín dị đoan như là một nghịch lý. Mê tín, dị đoan có liên quan đến nhận tâm thức con người cũng từ sự tha hóa; từ sự tha hóa đến bang hoại đạo đức chỉ còn một khoảng ngă.

 

 

Tóm lại, thực hành đúng tôn chỉ của giáo pháp Đức Phật, tín cần hiểu rõ bản chất của Phật giáo một cách trọn vẹn. Bởi vì, khi hành trì đúng tôn chỉ của tôn giáo mỗi chúng ta sẽ tạo ra phong thái riêng của mình. Những yếu tố không có ý nghĩa tinh thần cũng nhưbản chất của Phật giáo cần phải được chư Đại Dức Tăng hướng dẫn dể loại bỏ khỏi đời sống tu tập và hành trìn chánh pháp mà Đức Phật giao phó cho chư Tăng.

TT. Thích Đạo Nguyên

Mùa hạ, 2566 Phật lịch


[1] Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparanibbana-Sutta) tiếng Pali, thuộc Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya). Đừng lầm với Kinh Đại Bát Niết Bàn của Đại Thừa, nguyên văn viết bằng tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán và tiếng Tây Tạng, dài hơn và nội dung có hơi khác.