15-11-2016 | Admin

Những nếp nhà sàn đơn sơ, mộc mạc nhấp nhô trong những thung lung hay những dòng suối nhỏ yên bình và thơ mộng. Giữa bạt ngạt màu xanh của núi rừng, những nếp nhà sàn vẫn tồn tại hàng ngàn năm như một minh chứng rõ nét nhất về sức sống lâu bền của một nền văn hóa Mường. Nhà sàn không đơn giản chỉ là nơi sinh hoạt thường ngày, mà là không gian biểu trưng cho lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng của đồng bào Mường. Không có nhà sàn sẽ không có người Mường. Với kiến trúc đơn giản, mộc mạc nhưng nhà sàn chứa đựng trong nó cả một nền văn hóa, những giá trị lịch sử đúc kết qua bao thế hệ dân tộc Mường. Cũng từ đây, câu chuyện về một dân tộc nhỏ bé và gần gũi cho chúng ta thêm một lần nữa tìm hiểu và chiêm nghiệm



Con đường uốn lượn quanh co vào đến vùng đất Hòa Bình bao giờ cũng qua một cổng trời lớn, một dãy núi đá vôi trải dài trước mặt. Để tìm về không gian văn hóa Mường nguyên bản, chúng tôi phải đi qua thành phố để đến bản Giang Mỗ, huyện Cao Phong, cách thành phố Hòa Bình 12km. Dưới chân núi Mỗ thấp thoáng những mái nhà sàn nhỏ bé trong bản làng khói sương. Vào sâu trong bản là một xã hội người Mường thu nhỏ, còn giữ được đầy đủ nét truyền thống lẫn trong không gian văn hóa đương đại ngày nay.




Những ngôi nhà ở đây đều được dựng dựa lung vào thế đất cao của sườn đồi, sườn núi. Đây chính là nét truyền thống của nười Mường khi chọn địa điểm làm nhà theo tiêu chuẩn cả thế và hướng quy tụ được những tinh khí của trời đất và vạn vật xung quanh để tạo ra những điều may mắn và sức khỏe cho mọi người sống trong nhà.

Xa xa, phía trước các ngôi nhà là con suối róc rách. Đây là nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu của bà con trong bản . Những  ngôi nhà sàn của người Mường đều có hình dáng bên ngoài giống con rùa. Xa xưa, bản Mon nổi tiếng của người Mường là Te Đấc Te Đác, tức là Đẻ Đất Đẻ Nước.

Kể rằng thần rùa đã dạy cho người Mường biết cách làm nhà, làm kho giữ thóc. Bốn chân tôi làm nên cột cái, nhìn sườn dài, sườn cụt mà xếp làm dui, nhìn qua đuôi làm trái, nhìn lại mặt mà làm cửa thang, cửa sổ, nhìn vào sương sống mà làm nóc dài dài, muốn làm mái thì trông vào mai, vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách, lấy chả phớt mà buộc kèo. Bởi vậy, rùa được coi là con vật linh thiêng trong tín ngưỡng tâm linh của người Mường. Nó vừa biểu trưng cho sự trường tồn, vừa biểu trưng cho những phẩm chất truyền thống văn hóa của người Mường.


Cấu trúc ngôi nhà Mường chia làm 3 phần. Mặt trên cùng là gác để đựng lương thực, đồ dùng gia đình. Sàn nhà là nơi sinh hoạt, nghỉ ngơi, còn gầm sàn nhà dùng để đựng các dụng cụ sản xuất, nhốt các gia súc, gia cầm. Nhà thường có nhiều cửa sổ, bởi thế nên trong nhà luôn ấm vào mùa đông và mát mẻ, thoáng đãng vào mùa hè. Nhà sàn Mường thường dựng bằng gỗ, những trụ cột, xà ngang thường là những loại gỗ tốt, không bị mục đến hàng trăm năm như gỗ lim xanh, mài, lái. Cột cái luôn là cột dựng đầu tiên bởi đây được coi là cột thiêng, là vị trí đặt bàn thờ tổ tiên ngay sau cột. Tuy nhiên, chỉ có một số nhà mới có bàn thờ tổ tiên, vì theo phong tục của người Mường, chỉ con trai trưởng của dòng họ mới được lập bàn thờ tổ tiên. Khi có lễ Tết, mọi người trong dòng họ sẽ tập trung tại nhà người con trai trưởng để làm lễ thờ cúng.




Trong bản Giang Mỗ thì ngôi nhà của anh Nguyễn Văn Thương là ngôi nhà cổ nhất trong làng, có tuổi đời hơn 200 năm. Đây là ngôi nhà đặc biệt, có them thần trời trên nóc nhà bởi đây là ngôi nhà đã có rất nhiều những thế hệ con cháu sinh sống hàng trăm năm qua.

Những cột trụ của ngôi nhà được chôn sâu xuống đất khoảng 80cm cho đến 1m. Tục chon cột nhà, ngoài dụng ý cho vững chắc khung nhà, còn có ý nghĩa tâm linh, thể hiện cho sự hòa hợp ân dương. Một số gia đình có thể không chô cột nhà mà nâng cột lên mặt đất và kê lêm những phiến đá để chống mối mọt. Mái nhà truyền thống của người Mường có 4 mái, 2 mái trước và sau có hình thang cân, 2 mái đầu hồi có hình tam giác cân. Mái nhà thường được lợp bằng những nguyên liệu sẵn có trong rừng như lá chanh, lá cọ. Sàn nhà thường được lát bằng cây bương hoặc gỗ, nhưng phổ biến vẫn là cây bương vì đây là loại cây sẵn có và thân thuộc với bà con nơi đây. Màn, hay còn được gọi là cầu thang được làm bằng gỗ có hình chữ nhật, hoặc là một thân cây tròn được khoét thành bậc, các bậc thang đều có số lẻ là 3, 5, 7 hoặc 9 bậc, tùy theo độ cao của ngôi nhà. Quan niệm dân gian Mường coi con số lẻ là số may mắn. chỉ khi làm cầu thang trong nhà mồ cho người chết, người ta mới làm cầu thang có số bậc chẵn. Nhà sàn Mường có 2 cầu thang, cầu thang chính được đặt ở đầu hồi bên phải, cầu thang phụ ở đầu hồi bên trái. Ở cầu thang chính dành cho khách đến chơi nhà, hoặc vào những dịp gia đình có việc trọng đại như tang lễ, đám cưới, người phụ nữ Mường trải long mình bên khung cửi, thổi hồn vào sợi chỉ hồng bên con thoi đưa đẩy, hối hả theo nhịp. Cũng bên chân cầu thang chính ngôi nhà Mường, hình ảnh người phụ nữ xay lúa sẽ luôn bên cạnh tiếng chày giã gạo của người đàn ông, một sự ẩn hình cho một cuộc sống âm dương không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của đời xưa để lại.

Chiếc chạn đựng nước bằng ống bương dưới chân cầu thang, vật dụng hàng ngày được người phụ nữ trong gia đình xuống suối lấy nước, đem về để dùng cho việc rửa chân tay trước khi bước lên nhà hoặc dành cho mỗi khi khách đến chơi đi lên bằng cầu thang chính, việc đầu tiên là rửa chân bên cạnh cầu thang, múc từng gáo nước nhỏ rửa tay chân trước khi lên nhà. Nhìn những gáo nước nhỏ bé múc ra từ ống bương chậm rãi là cả một khoảng thời gian để cho chủ nhân vừa có sự ổn định về tâm lý, lẫn việc ổn định cho nơi đón khách.



Cầu thang phụ chỉ cho gia chủ làm bếp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, hoặc sau khi đi làm nương về nhà. Người Mường kiêng kỵ khách bước lên cầu thang phụ bởi đây là cầu thang đi lên gian buồng, là nơi để các đồ đạc quý và nơi riêng tư của gia chủ.

Một phần không thể thiếu và quan trọng nhất trong ngôi nhà sàn Mường chính là bếp. Bếp được coi là linh hồn của ngôi nhà sàn Mường, đây không chỉ là nơi chuẩn bị các thức ăn mà còn là nơi diễn ra các hoạt động chính trong gia đình và cộng đồng. Bếp chính được đặt bên trong và gian dưới nhà sàn, nơi có cửa sổ và gần vại nước. Ở gian khách cũng có một bếp phụ, chỉ dùng để sưởi, hong khô các vật dụng và đun nước pha trà. Trên bếp chính ở gian trong, người ta làm một cái giá treo cao và vững chắc để sấy khô các lương thực, thực phẩm như ngô, lúa, thịt trâu, thịt bò. Bếp luôn được ngược người Mường coi trọng và giữ ngăn nắp, sạch sẽ, sự ấm cúng, no đủ của gia chủ sẽ được phản ánh qua chiếc bếp. Kháh đến nhà chơi cũng được gia chủ thân tình tiếp chuyện, mời cơm bên bếp lửa. Ngọn lửa ấm áp của bếp nhà sàn thể hiện nét sinh hoạt văn hóa đoàn kết, ấm cũng và thân thiện của bà con dân tộc Mường đã được lưu giữ qua bao thế hệ từ hàng trăm năm nay.

Nhà sàn không chỉ là nơi các hoạt động cuộc sống hàng ngày diễn ra, mà còn là nơi sinh hoạt văn hòa tín ngưỡng của cộng đồng Mường. Trong nếp nhà sàn, mọi người lại quây quần bên nhau cùng múa hát cồng chiêng, nét văn hóa nghệ thuật truyền thống của người Mường. Người Mường yêu quý và gìn giữ cồng chiêng như một tài sản lớn của gia đình, dòng họ, bởi thế mà cồng chiêng vẫn được trân trọng, treo ngay ngắn trong gian chính của ngôi nhà sàn Mường. Âm thanh của tiếng cồng chiêng từ các ngôi nhà sàn vang vọng khắp rừng sâu, núi thẳm như nhắc nhở con cháu luôn hướng về tổ tiên và nguồn cội.

Mỗi bộ phận cấu thành nên ngôi nhà Mường đều mang ý nghĩa tâm linh, giá trị lịch sử sâu sắc. Nhà sàn vẫn được coi là minh chứng rõ nét nhất về cuộc sống, về những phong tục, tập quán, thói quen sinh hoạt, lao động sản xuất của người Mường. Với dân tộc Mường, không đâu mộc mạc, gần gũi hơn những ngôi nhà fsanf truyền thống bởi đó chính là nơi họ được sinh ra và lớn lên, được nuôi dưỡng trong chiếc nôi văn hóa tràn ngập sắc màu, là tài sản của cha ông, tổ tiên họ. Hơn cả, đó là linh hồn, văn hóa hội tụ của cả một dân tộc Mường qua hàng thế kỷ.


Theo kpvn.com.vn